Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định:

 “Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật.

Nói cách khác, hoá đơn là giấy tờ yêu cầu thanh toán các mặt hàng với số lượng và đơn giá liệt kê trong đó. Hóa đơn do bên bán phát hành. Sau khi bên mua thanh toán, bên bán sẽ xác nhận vào hóa đơn (viết hoặc đóng dấu xác nhận đã nhận đủ tiền).

Ban đầu, hoá đơn chỉ có giá trị làm bằng chứng chứng nhận cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa hai bên bán và mua. Mọi việc tranh chấp trong mua bán hàng hoá do hai bên tự giải quyết. Khi nhà nước tham dự vào quản lý mua bán hàng hoá và xử lý những tranh chấp về hàng hoá dựa trên pháp luật dân sự và hình sự, thì hoá đơn được nhà nước quy định là căn cứ pháp lý chứng minh cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa các bên và làm căn cứ để xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có hàng hoá.

Trong trường hợp áp dụng chế độ kế toán đối với các hoạt động kinh doanh, hoá đơn có vai trò của một chứng từ kế toán. Đối với chế độ quản lý thuế, hoá đơn được dùng làm căn cứ để xác định doanh thu hay thu nhập tính thuế, do vậy hoá đơn có vai trò của một chứng từ thuế.

Powered by BetterDocs